Nhân danh “Chúa trời, danh dự và Tổ quốc”1


Tặng gia đình Hòa-Mai quý mến

Lịch sử luôn đặt ra những thách thức cho mỗi đất nước. Giành lại lãnh thổ, chủ quyền và độc lập từ quân ngoại bang; vượt mọi gian khổ, mất mát và dựng xây lại mọi thứ từ đống đổ nát theo cách riêng của mình. Đó chính là câu chuyện về nền Cộng hòa thứ ba ở Ba-Lan.

        11 giờ 53 phút, khi chiếc máy bay airbus từ Brussels đáp xuống sân bay Chopin2, tôi cảm thấy hẫng hụt khi tiếp cận một Warszava trầm lắng về đêm. Khác với những gì có trong tưởng tượng của tôi và một số người mới chỉ nghe kể về thành phố “Paris của Trung Âu” này, Warszava dần hiện ra trước mắt tôi hoang vắng và tĩnh mịch, không có điểm nhấn…

 

Một thành phố mới mọc lên từ đống đổ nát

      Chỉ đến khi nắng lên, một ngày mới bắt đầu, tôi lại thấy một Warszava khắc hẳn đêm trước, trẻ trung, tươi mới dưới những tia nắng hè rực rỡ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng giống như nhiều thành phố Đông Âu khác, Warszava bị hủy hoại nghiêm trọng. Thành phố được  xây dựng lại, các công trình được phục chế, nhưng khó có thể lấy lại hình hài và bản sắc cũ. Tuy nhiên, những đường phố quang quẻ, rộng rãi, ít ô nhiễm lại làm nên một thủ đô mới của đất nước Ba-Lan năng động trong thời hội nhập.

      
Bù lại, du khách có những phút giây thực sự thư thái bên bờ sông Wisła  hay trong công viên nổi tiếng Lazienki, nơi có bức tượng lớn của Frédéric Chopin, nhà soạn nhạc vĩ đại, gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn trong âm nhạc thế kỷ XIX. Bức tượng được đặt trên bờ một hồ nước nhỏ và được Wacław Szymanowski (1859 – 1930), nhà điêu khắc, họa sĩ người Ba-Lan hoàn thành vào năm 1926. Bức tượng  lớn được đặt giữa không gian rộng 74 hec-ta, hoàn toàn trái ngược với phong cách tinh tế của âm nhạc Chopin. Hình ảnh nhạc sĩ ngồi dưới bóng một cây liễu tìm cảm hứng, tạo cho người ta những ý nghĩ thật mâu thuẫn, vừa dịu êm, sâu lắng vừa dữ dội, dào dạt. Dưới chân tượng, thường xuyên có các buổi hòa nhạc. Âm nhạc của Chopin thực sự là món ăn tinh thần, là thói quen thường nhật của mọi tầng lớp nhân dân Ba-Lan. Trẻ em nghe nhạc ông từ trong xe nôi, cả trong giấc ngủ; người già, người trẻ, lứa tuổi trung niên đều thưởng thức nhạc của ông theo cách riêng. Công viên Lazienki thực sự là một địa điểm hấp dẫn, trong lành và văn hóa.

         Kiến trúc trên đường phố Warszava ảnh hưởng nhiều của kiến trúc Nga, Đức, Áo, Hung-ga-ry…Có nhiều phố mới, rộng, trồng nhiều cây xanh và mang phong cách của một thành phố Đông Âu. Bờ sông, công viên hay một số nơi ngay trong thành phố vẫn giữ được nhiều nét hoang dã, đôi khi cho người ta cảm giác đang đi trong  làng hay bước vào bìa rừng vậy.

      

Tượng Chopin trong công viên Lazienki

Tượng Chopin trong công viên Lazienki


    Bên cạnh đó, phần thành cổ cũng được phục chế, tái tạo lại. Những bức tường thành bằng gạch đỏ tươi, rực rỡ dưới ánh nắng hè như nhắc nhớ một thời kỳ oanh liệt mà cũng đầy đau thương. Quá  khứ luôn đồng hành cùng những thành tựu mới, luôn đồng hành cùng những con người, hơn ai hết, họ hiểu được cái giá của một dân tộc phải trả để có chủ quyền, lãnh thổ và một nền độc lập.

         Cung điện mùa hè của các vị vua Ba-Lan xưa được trùng tu và trở thành bảo tàng trong công viên Wilanow. Chính phủ Ba-Lan cũng đã đầu tư, khôi phục đến mức có thể để có thể lưu giữ được không ít những hiện vật quý giá trong cung điện cũ. Cung điện được phục chế theo đúng kết cấu và dáng dấp ngày xưa. Còn khu vườn thượng uyển với những vườn hoa rộng lớn, lối bài trí đơn sắc hài hòa, tinh tế của hoàng gia Ba-Lan vẫn được chăm sóc và bảo tồn cẩn thận. 

     

Thành cổ được tái tạo và trùng tu

Thành cổ được tái tạo và trùng tu


     Từ quảng trường lớn tới khu phố cổ ở Warszava đâu đây vẫn phảng phất bóng dáng của quá khứ. Những nhà hàng theo phong cách truyền thống luôn đông nghịt khách. Thực khách xếp hàng dài chờ đến lượt. Ai cũng mong muốn ít nhất một lần được thưởng thức những món đặc sản chế biến theo kiểu Ba-Lan, từ những món ăn bình dân đến những món thịnh soạn. Phải chăng dĩ vãng luôn luôn có sức hấp dẫn riêng và khơi gợi hiếu kỳ đối với thế giới hiện đại?

Bảo tồn di sản một thời

      Ba-Lan là đất nước Trung Âu, nằm trên bờ biển Ban-Tích ở phía bắc; đông bắc giáp Nga; phía tây là Đức, phía đông giáp Littuanie, Biélorussie và Ucraine; phía tây

nam là Cộng hòa Séc và phía nam là Slovaquie. Diện tích 312 679 km2 và dân số   38 485 779 dân (theo số liệu năm 2014).      

         Krakow là một trong những thành phố cổ nhất và quan trọng nhất của Ba-Lan. Thành phố di sản thế giới UNESCO, từng là cố đô của Ba-Lan và hiện nay vẫn được coi như trung tâm văn hóa của cả đất nước. Thành phố này có bề dày hơn1000 năm lịch sử, được mệnh danh là “thành phố của thế giới”, là “trung tâm văn hóa châu Âu năm 2000”. Nằm ngay dưới chân đồi, nơi có thành cổ Wawel tọa lạc, Krakow thực sự là điểm du lịch ấn tượng và dễ chịu.

     

Nhà thờ lớn Wawel

Nhà thờ lớn Wawel


    Krakow là nơi các vị vua Ba-Lan từng được tấn phong và nằm lại khi qua đời. cái tên Krakow lần đầu tiên được một doanh nhân người Tây-Ban-Nha tên là Ibrahim ibn Yaqub xướng danh năm 965. Từ năm 1038, Krakow trở thành thủ đô Ba Lan suốt 500 năm. Nằm trên ngọn đồi đất lẫn đá vôi, bao quanh là sông Wisła và đầm lầy, Krakow có vị trí tự nhiên quan trọng về mặt quốc phòng. Đây cũng là nơi ở của các vị vua Ba-Lan.

          Từ năm 1320, tất cả các vị vua Ba-Lan, trừ ông vua cuối cùng là Stanislawa Augusta đều được tấn phong tại nhà thờ lớn Wawel. Đa phần trong số họ được chôn trong nhà thờ này. Nơi đây còn lưu giữ cả hài cốt của nhà thơ, nhà viết kịch Adama Mickiewicza (1798 – 1855) và Juliusza Slowackiego (1809-1849); một số vị tướng quân-anh hùng dân tộc như Tadeusz Kosciuszko (1746-1817), Jozef  Poniatowski (1763-1813), Jozef  Pilsudski (1867-1935) và Wladyslaw Sikorski (1881-1943).

           Kiến trúc Trung cổ vẫn được bảo tồn nguyên vẹn ở đây. Quảng trường nhà thờ Đức Bà, xưa kia là nơi giao thiệp, gặp gỡ của các thương nhân tứ xứ; nơi diễn ra các phiên chợ tấp nập ngựa, xe. Nhà thờ Đức Bà gồm hai tòa tháp: tháp cao (81 m) là tài sản của thành phố; tòa tháp thấp (69 m) thuộc về nhà thờ. Tòa tháp cao cũng chính là tháp chuông lớn của cả thành phố. Ngày xưa nhà thờ điểm chuông mỗi khi có ánh lửa báo hiệu quân giặc kéo đến gần thành phố. Còn ngày nay, chuông nhà thờ rung lên mỗi giờ về bốn hướng.

          Ngày 12 tháng 5 năm 1364, vua Kazimierz Wielki (1310-1370) đã cho mở  trường đại học đầu tiên ở Ba-Lan với ba chuyên khoa: Luật, Y học và Triết học. Cuối thế kỷ XV, có 9600 sinh viên học đại học, trong số đó phải kể đến nhà bác học lừng danh Kopernic.

          Ở Ba-Lan có tới 90% dân số theo đạo Thiên chúa. Nếu như Phật giáo là thiên hướng chủ đạo ở một số nước châu Á như Lào, Thái Lan, Trung quốc… thì ở Ba-Lan, Thiên chúa giáo chính là cái gốc của mọi giá trị về tinh thần. Người dân đi lễ nhà thờ như một thói quen thường nhật. Cả gia đình, ông, bà, bố, mẹ, các con lớn nhỏ đều tới các lễ trọng, các buổi lễ trong tuần. Có lẽ vì thế mà khi nhìn vào những đôi mắt trong vắt của các thiếu nữ, các thiếu phụ Ba- Lan, người ta lại thấy vững tin vào Đấng siêu linh, vào thế giới của Chúa trời chăng ? Đức tin giống như viên ngọc, khi được chăm chút, chắc hẳn sẽ sáng ngời !

         Ba-Lan cũng là nước có một nền ẩm thực phong phú, da dạng. Cách chế biến món ăn Ba-Lan chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử. Nhiều thể kỷ qua, người Ba-Lan vẫn lưu giữ các công thức chế biến địa phương, dù cho đất nước có một thời kỳ dài bị ngoại bang xâm lấn và chiếm đóng. Tuy nhiên, do đất nước bị nhiều người nước khác đến sinh sống, các món ăn ở đây chịu nhiều ảnh hưởng của ẩm thực phương Đông (Mông cổ, Tac-ta, Thổ- Nhĩ- Kỳ) và cả phương Tây (Nga, Đức, Pháp, Ý và Do Thái).

        Những món ăn bình dân của Ba Lan như pierogi (gần giống bánh gối, bột mỳ bao khoai tây,  fromage, thịt lơn, nấm, hành, hạt tiêu, bơ); món bigos (bắp cải nhồi thịt); món bánh kluski (hơi giống bánh bao vì cũng chín bằng hơi nước); món xúp bắp cải, khoai tây, nước thịt; món xúc-xích Ba-Lan đặc sắc kielbasa hay món pho-mát trắng; món bánh ngọt tráng miệng babka,v.v… Trà đen cũng là thức uống dân dã đặc sắc của Ba-Lan. Cho tới hôm nay, trà vẫn được uống bằng cốc, cho thêm ít đường và một lát chanh. Thứ trà dùng ở Ba-Lan được các thương gia người Hà Lan mang tới từ Anh, không lâu sau khi nó xuất hiện ở Tây Âu. Tuy nhiên nó được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ XIX khi Nga xâm chiếm đất nước. Cũng thời điểm này, xuất hiện những chiếc ấm sa-mô-va từ Nga tới, sớm hơn khi tới Hà Lan tới 50 năm. Café cũng chỉ là thức uống rất bình dân, từ thế kỷ XVIII cho tầng lớp lao động như thợ thủ công hay phú nông.

Từ nỗi niềm của những người con tha hương…

       Xuyên suốt thế kỷ XIX, đất nước Ba-Lan bị xâm chiếm bởi Nga, Phổ (sau đó là Đức) và Áo (tiếp theo là liên quân Áo-Hung). Có tới 103 năm, đất nước này thuộc ngoại bang. Những năm 1890, có tới hàng chục nghìn công nhân Ba-Lan di cư sang Đức, làm việc trong các mỏ than. Cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều người hồi hương, song đa phần do có nghiệp vụ tốt, họ mong muốn làm việc trong các nhà máy ở Pháp.

        Có khoảng 50.000 người trong số họ đã tới Pháp vào những năm 1920, trong đó có hai phần ba tới khu mỏ ở vùng Nord-Pas-de-Calais, miền Bắc nước Pháp làm việc.

         Đất nước Ba-Lan đã cống hiến cho nhân loại những con người kiệt xuất. Nhà chiêm tinh học, nhà toán học lừng danh Kopernic (1473-1543), nhà hóa học nổi tiếng Marie-Curie (1867-1934), đức Giáo hoàng Jean Paul II (1920-2005) đều là người Ba-Lan.

        Gần nửa cuộc đời Frédéric Chopin sống ở Pháp. Tuy nhiên, người ta luôn cảm nhận  một nỗi buồn thường trực, chất chứa trong các bản nhạc của ông. Dường như nỗi tha hương luôn thấp thoáng, day dứt và trào dâng trong dòng nhạc Chopin. Ông mất khi mới 39 tuổi. Thi hài ông nằm lại nghĩa trang Père-Lachaise ở Paris. Nhưng, trái tim ông được mang về tổ quốc Ba-Lan yêu dấu, thể theo nguyện vọng cuối cùng của ông. Trái tim ông được lưu giữ tại nhà thờ Saint-Croix. Mặc dù rất nổi tiếng và thành danh ở Pháp, cho tới tận cuối đời, ông vẫn luôn hướng về mảnh đất quê hương, nơi thiên tài âm nhạc nơi ông ra đời và hiện hữu. Có lẽ vì thế mà Ba-Lan lại trở về với người Ba-Lan. Đất nước giành lại chủ quyền sau những tháng ngày bị chia cắt và bị Nga, Phổ, Đức, Áo xâm chiếm, từ ngày 11 tháng 11 năm 1918.

         Nhà thơ, nhà viết kịch Adama Mickiewicza, từng được coi là « Hugo của Ba-Lan » viết nên những tứ thơ từ gan ruột mình trong bài thơ Tổ tiên bất hủ :

« Hồn tôi thành hình nơi Tổ quốc ; tôi thấm đẫm thân hình tôi hồn Tổ quốc ! Tôi, Tổ quốc chỉ là một. Tôi tên là Một triệu,vì tôi yêu và đau khổ cho một triệu con người. Tôi nhìn Tổ quốc bị cướp đoạt như người con nhìn thấy cha mình bị giày xéo dưới bánh xe ; tôi cảm nhận nỗi giày vò của của cả dân tộc, như người mẹ cảm nhận nỗi đau của con mình trong bầu ngực… »3

         Tổ quốc thực sự là nỗi khắc khoải khôn nguôi, là nỗi đau không thể xoa dịu mà những người con của đất nước Ba-Lan đã gánh chịu trong suốt những đêm trường bị ngoại bang giày xéo.

…đến sự phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập

        Ngày 1 tháng 1 năm 1990, nền Cộng hòa thứ ba của Ba Lan chính thức ra mắt.  Thời kỳ này hình thành giữa ba nước Đức, Pháp và Ba-Lan « tam giác Weimar», khiến cho Ba-Lan tiến được tới gần Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và chuẩn bị gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Cả hai mục tiêu này của Ba-Lan đều đã thắng lợi : Ba-Lan gia nhập NATO năm 1999 và ngày 1 tháng 5 năm 2004, nước này đã chính thức trở thành thành viên EU

           Sau 10 năm kể từ khi gia nhập EU, nhất là trong những năm gần đây, nền kinh tế Ba-Lan đã thực sự khởi sắc. Ba Lan xếp thứ 15 trong danh sách các nước giàu nhất thế giới với thu nhập bình quân/ đầu người là 21.214 USD, năm 2013. Đặc biệt, chỉ số phát triển con người IDH là 0,821, ở vị trí rất cao, xếp thứ 39 toàn thế giới, năm 2012.

        Như vậy, chỉ qua 96 năm kể từ khi đất nước được giành lại lại từ tay quân ngoại bang, với biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử và của thế giới, đất nước Ba-Lan đã nhanh chóng hồi sinh và có những bước tiến vượt bậc về mọi mặt. Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, yếu tố con người vẫn là thước đo chính xác những giá trị đạo đức và văn hóa xã hội. Nền Cộng hòa thứ ba đã đem lại cho đất nước Ba-Lan những thành tựu về mọi mặt. Những công dân Ba-Lan hôm nay đã chung tay xây dựng nên hình hài một đất nước lớn mạnh từng ngày và không ngừng vươn lên sánh vai với các cường quốc ở châu Âu và thế giới.

                                                                                  9-2014

1 Khẩu hiệu của Ba-Lan

2 Frédéric Chopin (1810-1849)

3  Aïeux (1832)- dịch qua bản tiếng Pháp của Georges Sand (Nguyễn Minh Nguyệt dịch)

Advertisements
Categories: Châu Âu, Cuộc sống | 2 phản hồi

Điều hướng bài viết

2 thoughts on “Nhân danh “Chúa trời, danh dự và Tổ quốc”1

  1. Vu Anh Tuan

    Cảm ơn Lune đạ gửi bài viết rất hay. Mời Lune ghé trang Sachvatranh.com đọc chơi, lúc này có trên 10.000 trang rồi. Chúc Lune mạnh, vui, và nhiều cảm hứng sáng tác.

    • Lune xin cảm ơn bác Vũ Anh Tuấn đã xem bài viết và nhận xét. Lune đã xem qua trang của bác, có nhiều bài viết hữu ích. Hy vọng khi nào có thời gian, Lune sẽ quay lại xem tiếp. Đặc biệt xin được chia buồn với bác. Tinh cảm giữa em gái với các anh trai trong gia đình ba giờ cũng gần gũi bác nhỉ ! Thì ra bác là dân công giáo !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: